Kinh Dịch

Quẻ Sơn Lôi Di: quái từ, sáu hào và các lớp chú giải có nguồn

Sơn Lôi Di (頤) là quẻ thứ 27 trong thứ tự Kinh Dịch được truyền lại, với Chấn ở dưới và Cấn ở trên. Lời quẻ đặt việc nuôi dưỡng bên cạnh điều kiện giữ chính, quan sát đối tượng được nuôi và cách tự nuôi mình. Trong hệ thống 64 quẻ Kinh Dịch, bài này đọc riêng quái từ, Thoán, Tượng và sáu hào của Di, đồng thời tách cách giải của Vương Bật, Khổng Dĩnh Đạt và Chu Hi. Hình ảnh miệng, thức ăn, rùa và hổ được đọc trong văn bản lịch sử; chúng không cung cấp chế độ ăn, cách chữa bệnh hay dự báo cho người đọc.

Nhận diện Di: Chấn dưới, Cấn trên

Hai bản chép đang đối chiếu đều ghi 震下/艮上: Chấn dưới, Cấn trên. Đếm từ dưới lên, sơ cửu và thượng cửu là hai hào dương; bốn hào giữa là âm. Chuỗi 100001 chỉ là cách mã hóa biên tập sáu vị trí ấy bằng nét liền và nét đứt; nó chưa xác định hào động hoặc một lần lập quẻ.

Thành phần Đọc theo chứng liệu đang dùng
Thứ tự kinh văn 27 — 〈頤〉第二十七
Hạ quái Chấn — 震
Thượng quái Cấn — 艮
Hào dương, từ dưới lên 1, 6
Hào âm, từ dưới lên 2, 3, 4, 5
Quẻ Di: Chấn dưới, Cấn trên; hào một và sáu là dương.Sáu vị trí đếm từ dưới lên: liền, đứt, đứt, đứt, đứt, liền. Cấn gồm ba hào trên, Chấn gồm ba hào dưới. Hình chỉ nhận diện cấu trúc, không chọn hào động.Cấn ở trên654321Chấn ở dướiHào: đọc từ dưới lên
Chấn dưới, Cấn trên; hai hào dương ở vị trí1 và6 đếm từ dưới lên. Hình không chọn hào động.

Chu Hi giải chữ “頥” trong bản chép của ông bằng phần bên miệng, rồi nối việc miệng nhận thức ăn với nghĩa nuôi dưỡng. Ông cũng nêu hai dương ở ngoài, bốn âm ở trong, trên dừng dưới động. Khổng sớ khi giải Đại Tượng nói đến việc mở lời và nhai, đều làm động phần hàm. Đây là những cách giải hình tượng có tên; hình quẻ không đo tình trạng cơ thể hay xác định nhu cầu dinh dưỡng.

Quái từ: quan sát việc nuôi dưỡng và giữ điều kiện chính đáng

頤貞吉觀頤自求口實

Có thể diễn nghĩa để đọc: “Di: giữ chính thì cát; quan sát việc nuôi dưỡng; tự tìm cái làm đầy miệng.” Khổng sớ giải “觀頤” bằng việc quan sát đối tượng được nuôi, và “自求口實” bằng việc quan sát cách tự nuôi. Câu diễn nghĩa giữ mặt chữ “miệng”, còn lời chú cho biết phạm vi suy xét rộng hơn một món ăn.

Chu Hi nói quan sát con đường nuôi dưỡng và cách nuôi thân, đều được chính thì cát. Điều kiện ấy không thể bỏ sau khi dịch một chữ “吉”. Khi đọc tiếp các hào, cùng chữ “顛頤” có lời hung ở hào hai và lời cát ở hào bốn; ta cần giữ vai, vị trí và cách giải đi kèm, thay vì kết luận cứ nhận hoặc cho sự hỗ trợ là tốt.

Khi theo dõi lời quẻ, có thể giữ hai câu hỏi cạnh nhau: đối tượng được nuôi là ai, và cách tự nuôi dựa vào đâu? Đây là cách sắp câu hỏi để đọc Thoán bên dưới, không phải hai phép tính tạo kết quả. Khổng sớ bàn cả việc nuôi người hiền lẫn tự nuôi; Chu Hi cũng đặt hai đường quan sát trong điều kiện được chính.

Thoán và Tượng: nuôi người, tự nuôi và giữ lời

頤貞吉養正則吉也觀頤觀其所養也自求口實觀其自養也天地養萬物聖人養賢以及萬民頤之時大矣哉

Thoán giải: nuôi điều chính thì cát; quan sát việc nuôi là quan sát đối tượng được nuôi; tự tìm cái đầy miệng là quan sát cách tự nuôi; trời đất nuôi muôn vật, thánh nhân nuôi người hiền rồi đến muôn dân, thời của Di lớn thay. Đoạn chữ trên được nối từ ba mảnh kinh văn, bỏ “彖曰” và dấu trang của bản chép, không ghép chữ sớ vào lời kinh.

Khổng sớ nói “養正” gồm hai ý: nuôi người hiền và nuôi thân đúng cách. Sớ còn đặt việc quan sát trong quan hệ người ở dưới nhìn người ở trên: họ nuôi ai và tự nuôi có chừng mực hay không. Đó là cách giải trong hệ vai lịch sử của sớ. Phần Thoán đang trích không có một đoạn riêng đánh dấu “注” của Vương Bật; bản Bản nghĩa, quyển một đang dùng cũng không có lời Thoán riêng ở mục Di. Vì vậy, không gán thêm một cách giải Thoán cho hai tác giả từ phần chứng liệu này.

山下有雷頤君子以慎言語節飲食

Đại Tượng có thể diễn nghĩa: “Dưới núi có sấm là Di; quân tử do đó thận trọng lời nói, tiết chế ăn uống.” Vương chú nói ngay cả lời nói và ăn uống còn cần thận trọng, tiết chế, huống chi những việc khác. Khổng sớ giải trên dừng, dưới động và nối hình tượng với những việc làm động hàm. Bài trình bày lời răn cổ ấy ở phạm vi văn bản; câu này không xác lập thực đơn, lượng ăn, chỉ định nhịn ăn hay phương pháp điều trị.

Mỗi Tiểu Tượng dưới đây giải một hào cụ thể. Chẳng hạn “觀我朶頤亦不足貴也” nói đến việc không đáng quý ở hào đầu, còn “居貞之吉順以從上也” gắn lời cát của hào năm với thuận theo phía trên. Giữ sáu lời giải riêng giúp tránh lấy “nuôi dưỡng” làm một đáp án chung cho mọi vị trí.

Tách sáu lớp có tên khi đọc mục Di trong các bản chép đang dùng.Kinh văn là quái từ và sáu hào; Thoán và Tượng là lớp truyện trong Chú sớ. Vương chú có ở Tượng và các hào, riêng Thoán chưa thấy đoạn chú đánh dấu riêng trong phần đang đọc. Khổng sớ và Âm nghĩa giữ tên riêng. Chu Hi chú quái từ và hào từ; mục Di trong quyển một đang dùng không tách Thoán hoặc Tượng riêng.Kinh vănQuái từ · Sáu hàoThoán / TượngLớp truyện trong Chú sớVương chúTượng · các hàoThoán: chưa thấy chú riêngKhổng sớGiải kinh · Thoán · TượngÂm nghĩaÂm đọc · dị giải có tênChu HiChú quái từ · hào từMục Di: không tách Thoánhoặc Tượng riêngGiới hạn: mục Di đang đọc.Không nhập lời chú vào kinh.
Quái/hào từ, Thoán/Tượng, Vương chú, Khổng sớ, Âm nghĩa và Chu Hi được đọc theo lớp có tên; không nhập lời chú vào kinh văn.

Sáu hào và sáu Tiểu Tượng: giữ nguyên điều kiện

Bảng dẫn hào từ theo bản Chu Dịch chú sớ; cột Tiểu Tượng bỏ chữ mở đầu “象曰” và nối các chỗ xuống dòng của bản chép. Phần tiếng Việt là diễn nghĩa để đọc, chưa quyết định mọi chữ khó. Các chú giải có tên và khác biệt chứng liệu được giải thích ngay sau bảng.

Vị trí Hào từ trong bản Chú sớ Tiểu Tượng Diễn nghĩa để đọc
Sơ cửu — 1 初九舍爾靈龜觀我朶頤凶 觀我朶頤亦不足貴也 Bỏ rùa thiêng của mình, nhìn ta động hàm; hung. Tiểu Tượng nói điều ấy không đáng quý.
Lục nhị — 2 六二顚頤拂經于丘頤征凶 六二征凶行失𩔖也 Nuôi dưỡng đảo chiều, trái lẽ thường, ở “丘”; đi thì hung. Tiểu Tượng nói việc đi mất loại.
Lục tam — 3 六三拂頤貞凶十年勿用无攸利 十年勿用道大悖也 Trái việc nuôi dưỡng, giữ theo đó thì hung; mười năm không dùng, không có điều lợi. Tiểu Tượng nói đạo trái lớn.
Lục tứ — 4 六四顛頤吉虎視眈眈其欲逐逐无咎 顛頤之吉上施光也 Nuôi dưỡng đảo chiều, cát; nhìn như hổ, “其欲逐逐”, không lỗi. Tiểu Tượng nói sự ban xuống từ trên sáng tỏ.
Lục ngũ — 5 六五拂經居貞吉不可渉大川 居貞之吉順以從上也 Trái lẽ thường; ở yên giữ chính thì cát, không thể vượt sông lớn. Tiểu Tượng nói thuận để theo trên.
Thượng cửu — 6 上九由頤厲吉利渉大川 由頤厲吉大有慶也 Do đó mà được nuôi, “厲” rồi cát, lợi vượt sông lớn. Tiểu Tượng nói có điều mừng lớn; nghĩa “厲” cần chú giải.

Sơ cửu: rùa thiêng và việc chạy theo phần được hưởng

Vương chú giải “朶頤” là nhai và gắn lời hung với việc không tự giữ mà chạy theo bổng lộc. Khổng sớ nói rùa có điềm sáng được mượn để ví với đức sáng của mình; bỏ nó để ham phần ăn là mất sự liêm tĩnh. Chu Hi dùng một đường giải khác: “靈龜” là vật không ăn, sơ cửu dương cương nhưng động theo ham muốn khi ứng với lục tứ. Những lời ấy giải hình tượng cổ và ý nghĩa đạo đức được tác giả đặt vào nó. “Rùa không ăn” không được dùng làm kiến thức sinh học hoặc lý do nhịn ăn; Tiểu Tượng cũng không phán giá trị con người hiện tại.

Lục nhị: “丘” và chiều của sự nuôi dưỡng

Vương chú đọc “顛” là nuôi phía dưới, “經” như nghĩa và “丘” là chỗ thường mình ở. Khổng sớ tiếp tục giải lục nhị không có ứng phía trên mà quay xuống nuôi sơ cửu, trái hệ vai được sớ nêu; Tiểu Tượng “行失𩔖也” được đọc trong chiều nuôi ấy. Chu Hi lại đọc lời hào theo việc cầu người khác nuôi, giải “丘” là nơi cao và là tượng của phía trên. Vì vậy, một bản tóm tắt “hào hai chỉ việc xin cấp trên trợ giúp” sẽ bỏ mất cách Vương/Khổng đang giải.

Lục tam: trái cách nuôi chính và giới hạn “mười năm”

Vương chú nói làm điều không chính để nuôi phía trên, tự đưa mình lên bằng nịnh; Khổng sớ giải rõ việc ấy trái nghĩa nuôi chính. Tiểu Tượng gọi đạo ấy “大悖”, trái lớn. Chu Hi nhấn mạnh âm nhu, không trung chính và ở cực của động, rồi nói đã trái việc nuôi dưỡng thì dù giữ theo đó cũng hung. Bản Chú sớ ghi “无攸利”; bản chép Chu Hi ở đúng chỗ tương ứng lại ghi “元攸利”. Bài giữ sai khác này, không sửa bản chép Chu Hi thành “无” rồi gọi là nguyên văn. “十年勿用” là lời hào lịch sử, không phải thời hạn cấm làm một việc hay dự đoán mười năm cho người đọc.

Lục tứ: cùng “顛頤”, khác quan hệ và cách hiểu ham muốn

Vương chú nói lục tứ ở thượng thể, được vị và ứng với sơ cửu, lấy trên nuôi dưới nên cát. Khổng sớ giải Tiểu Tượng “上施光也” theo việc ban từ hào bốn xuống hào đầu, rồi phân biệt với lục nhị vốn ở hạ thể. Hình hổ được giải là uy mà không dữ; “逐逐” gắn với sự đôn thực, sớ còn nói ít ham muốn, ít cầu. Chu Hi lại nói hào bốn dựa vào sự nuôi của hào ứng để ban xuống dưới, giải “逐逐” là cầu rồi tiếp nối. Hai đường giải khác nhau cả ở chiều nhận–cho và sắc thái của sự cầu; lời “无咎” không cho phép bỏ các điều kiện kèm theo.

Lục ngũ: giữ chính và theo phía trên

Vương chú giải âm ở vị dương, đi thì mất loại, nên giữ chính; không có ứng ở dưới mà gần phía trên nên thuận theo trên để được nuôi. Khổng sớ nói khó khăn chưa được giải, vì thế chưa thể vượt sông lớn, và nối Tiểu Tượng với lục ngũ gần thượng cửu. Chu Hi nhấn mạnh ở vị tôn mà không thể nuôi người, ngược lại dựa vào sự nuôi của thượng cửu. Cả hai cách giải giữ sự phụ thuộc ấy; câu “居貞吉” không tự trở thành phép đo mức an toàn hay lời bảo đảm chỉ cần ở yên.

Thượng cửu: nguồn nuôi dưỡng và chữ “厲”

Vương chú đặt thượng cửu là chỗ các âm dựa vào để được nuôi, không thể khinh nhờn, nên đọc “厲” theo sự nghiêm. Khổng sớ theo đường giải này. Tuy nhiên, phần Âm nghĩa trong cùng chứng liệu còn ghi Mã và Vương Túc hiểu là nguy; không thể gọi toàn bản Chú sớ chỉ có một nghĩa của “厲”. Chu Hi giải vị cao, trách nhiệm nặng nên “厲而吉”. Tiểu Tượng nói “大有慶也”, nhưng lời cát và lợi vượt sông vẫn ở trong lời hào cổ, không chứng nhận một dự án, chuyến đi hay việc gánh trách nhiệm hiện tại sẽ thành công.

Đối chiếu chú giải trước khi dùng một khẩu hiệu

Bảng tách các cách giải đã xuất hiện trong chứng liệu. Những khác biệt này là lý do phải ghi tác giả và lớp văn bản, thay vì coi toàn bộ Di chỉ dạy “tự nuôi”, “nuôi người khác” hoặc “đừng cầu ai”. Không cần giải quyết mọi dị biệt thành một nghĩa duy nhất để đọc được từng lời.

Đoạn cần đối chiếu Vương chú / Khổng sớ Chu Hi và giới hạn
靈龜 ở sơ cửu Khổng sớ ví điềm sáng của rùa với đức sáng của mình. Chú bằng “không ăn”, rồi giải động theo ham muốn; hình tượng lịch sử, không phải chỉ dẫn ăn uống.
丘 ở lục nhị Chỗ thường mình ở; lời giải theo việc quay xuống nuôi sơ cửu. Nơi cao, tượng phía trên; không đồng nhất hai cách đọc chiều nuôi.
顛頤 / 逐逐 ở lục tứ Trên nuôi dưới; đôn thực, uy mà không dữ, ít cầu. Dựa vào sự nuôi để ban xuống; cầu rồi tiếp nối.
厲 ở thượng cửu Vương/Khổng giải nghiêm; Âm nghĩa còn ghi Mã/Vương Túc giải nguy. Vị cao, trách nhiệm nặng; không biến “厲吉” thành hứa an toàn.

Phần Âm nghĩa là lớp ghi âm đọc và những lời giải được dẫn lại; nó không tự trở thành lời của Vương Bật hay Khổng Dĩnh Đạt. Chẳng hạn ở thượng cửu, cần phân biệt lời Vương/Khổng về sự nghiêm với lời Mã và Vương Túc về nguy. Giữ tên từng người giúp thấy sự đa dạng ngay trong cùng một bản chép, trước khi đem so với Chu Hi.

Lục nhị và lục tứ, lục ngũ và thượng cửu có lời khác nhau theo vị trí.Lục nhị ghi 頤征凶; lục tứ ghi 顛頤吉. Lục ngũ ghi 不可渉大川; thượng cửu ghi 利渉大川. Đây là những mảnh lời hào đang đối chiếu; cần giữ vị trí và điều kiện, không chọn hành động hay bảo đảm kết quả hiện tại.So lời theo từng vị tríHào 2 / 4: hung và cátLục nhị · hào 2頤征凶Đi thì hungLục tứ · hào 4顛頤吉Đảo chiều, cátHào 5 / 6: lời về vượt sôngLục ngũ · hào 5不可渉大川Không thể vượt sông lớnThượng cửu · hào 6利渉大川Lợi vượt sông lớnGiữ điều kiện từng hào.Không chọn việc đi hay dừng.
Lục nhị:頤征凶; lục tứ:顛頤吉; lục ngũ:不可渉大川; thượng cửu:利渉大川. Lời khác nhau theo vị trí, không chọn hành động hoặc hứa kết quả.

Đối chiếu hào hai với hào bốn kiểm tra được giới hạn của câu “顛頤 là xấu”: chính kinh văn có cả hung và cát. Đối chiếu hào năm “不可渉大川” với hào trên “利渉大川” cũng ngăn việc lấy một câu về tiến hay dừng cho toàn quẻ. Đây là kiểm tra tính đầy đủ của bản đọc; nó không chọn hào cho một người hoặc xác định quyết định hiện tại.

Ví dụ biên tập: một nhóm học chia sẻ sự hỗ trợ thế nào?

Giả sử một nhóm học có quỹ giờ hướng dẫn hạn chế: người có kinh nghiệm hướng dẫn người mới, còn chính người hướng dẫn cũng cần tài liệu và người kiểm tra. Đây là tình huống do người viết đặt ra để suy xét chiều nhận–cho, không phải hoàn cảnh được suy từ một lần gieo quẻ hoặc ví dụ nguyên văn của các nhà chú giải.

Khi đọc “觀其所養” và “觀其自養”, nhóm có thể đặt hai câu hỏi: thời gian hỗ trợ đang dành cho ai, và người cung cấp hỗ trợ đang dựa vào điều gì? Cách đọc hào bốn của Vương/Khổng gợi việc nhìn chiều hỗ trợ đi xuống; cách Chu Hi giải hào bốn giúp đặt thêm câu hỏi về nguồn hỗ trợ mà người hướng dẫn nhận để chia sẻ tiếp. Sự liên hệ này là phép suy xét biên tập, chưa chứng minh kế hoạch nhóm tốt chỉ vì giống một hình tượng.

Nhóm cần dữ kiện thực: người mới đã hiểu phần nào, người hướng dẫn có tài liệu đủ rõ hay chưa, thời gian có được phân bổ phù hợp và phản hồi có giúp sửa sai không. Có thể điều chỉnh lịch hướng dẫn bằng những dữ kiện ấy. “吉”, “无咎” hoặc “十年” trong lời cổ không thay việc kiểm tra, không đo hiệu quả học tập và không ấn định kết quả tương lai.

Đọc kinh văn chưa hoàn thành một phép đoán

Chứng liệu số Mai Hoa Dịch Số, quyển hai trong bộ nguồn đang dùng có lời xem hào từ sau khi thành quẻ, rồi xét thể–dụng và ngũ hành sinh khắc; thể, dụng, hỗ, biến có vai riêng. Vì vậy, nhận diện Di và đọc sáu hào chưa hoàn thành một phép Mai Hoa. Việc dẫn ranh giới ấy không xác nhận tác giả nguyên thủy của bản truyền hoặc hiệu quả dự báo.

Chứng liệu số Tăng San Bốc Dịch, chương Hồn thiên giáp tử ghi việc gắn chi cho nội, ngoại quái và an ngũ hành từ dưới lên. Bài này không an nạp giáp, xác định nhật thần, nguyệt kiến hoặc kiểm chứng một công cụ gieo quẻ. Bảng vị trí sáu hào phục vụ việc đọc văn bản; một kết quả theo phương pháp riêng cần đầu vào và cách xử lý riêng.

Nguồn đang dùng và giới hạn bản chép

Nguồn chính là Chu Dịch chú sớ (周易注疏), quyển năm, phần 頤 trong bản chép WYG của Kanripo; đối chiếu Chu Dịch bản nghĩa (周易本義), quyển một của Chu Hi, nơi dùng dạng 頥, và chỉ mục kinh văn ghi 〈頤〉第二十七. Bài tách kinh văn, Vương chú, Khổng sớ và Âm nghĩa. Những lớp này thuộc bản chép số đang đọc; ảnh trang in chưa được đối chiếu độc lập.

Hào ba của chứng liệu Chu Hi có “元攸利”, khác “无攸利” của bản Chú sớ; đây được ghi như sai khác đang quan sát, chưa kết luận chữ nào thuộc một bản in gốc. Các dạng 頤/頥, 顚/顛, 初/𥘉, 眈/耽, 渉/涉 và 𩔖/類 cũng không được âm thầm đồng nhất khi gọi là nguyên văn. Bảng theo chữ của bản Chú sớ; Thoán và Tiểu Tượng có ghi cách nối mảnh. Các diễn nghĩa tiếng Việt và ví dụ nhóm học là phần giải thích, không phải trích nguyên văn.

Chu Dịch · 5 Công Cụ

Công Cụ Kinh Dịch

64 quẻ Kinh Dịch, gieo quẻ 3 xu, mai hoa dịch số — miễn phí.

Truy cập miễn phí